TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN, TOÀN QUÂN RA SỨC THI ĐUA THỰC HIỆN THẮNG LỢI NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG!
Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Đăng ngày: 08/07/2026 - Lượt xem: 43
Phát huy tinh thần tự lực, tự cường, tự tin, tự hào dân tộc của cán bộ, đảng viên để xây dựng, phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã tạo dựng nên một hệ giá trị tinh thần đặc sắc, bền vững, trở thành nguồn lực nội sinh quyết định mọi thắng lợi của cách mạng. Trong đó, tinh thần tự lực, tự cường, tự tin, tự hào dân tộc là những giá trị nổi bật, trường tồn, kết tinh từ truyền thống lịch sử, hun đúc qua các cuộc đấu tranh sinh tồn, được tiếp tục phát huy mạnh mẽ trong công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế và phát triển đất nước. Việc khơi dậy và phát huy những giá trị ấy không chỉ mang ý nghĩa tinh thần, mà còn trở thành động lực và lực lượng vật chất to lớn để củng cố tiềm lực, vị thế, năng lực tự chủ của quốc gia, đưa Việt Nam phát triển nhanh và bền vững.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới dự phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6-2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương _Ảnh: VGP

1- Tinh thần tự lực, tự cường, tự tin, tự hào dân tộc - nền tảng sức mạnh của dân tộc Việt Nam trong bối cảnh mới

Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử của những chiến công phi thường được tạo nên bởi một dân tộc tuy nhỏ về diện tích, dân số, nhưng sở hữu một sức mạnh nội sinh đặc biệt mà không thế lực xâm lược nào có thể khuất phục. Qua từng chặng đường lịch sử, Việt Nam luôn phải đối mặt với những thế lực lớn mạnh hơn gấp nhiều lần, những biến động địa - chính trị phức tạp, những thử thách nội tại của quá trình phát triển. Điều kỳ diệu là dân tộc Việt Nam không chỉ đứng vững, mà còn trưởng thành mạnh mẽ qua mỗi thử thách.

Cội nguồn của sức sống mãnh liệt ấy chính là tinh thần tự lực, tự cường, được hun đúc trong suốt chiều dài lịch sử, là niềm tự tin vào bản lĩnh, trí tuệ của dân tộc và là lòng tự hào dân tộc luôn rực cháy trong mỗi con người Việt Nam. Giá trị đó hòa quyện, tạo nên sức mạnh nội sinh độc đáo làm nên mọi chiến công từ thời các vua Hùng dựng nước, qua các triều đại chống ngoại xâm, đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945, các cuộc kháng chiến vĩ đại và công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế ngày nay.

Tinh thần tự lực - yếu tố nền tảng, xuất phát điểm của mọi thắng lợi

Trong điều kiện hiện nay, tự lực được hiểu là khả năng dựa vào nội lực quốc gia và sức mạnh con người Việt Nam để giải quyết yêu cầu phát triển. Đối với cán bộ, đảng viên, tự lực trước hết thể hiện ở tinh thần chủ động, không trông chờ hoặc ỷ lại vào sự hỗ trợ từ bên ngoài. Tự lực thể hiện ở sự cố gắng, nỗ lực cao độ vượt qua mọi khó khăn, thử thách để thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ được giao phó. Tự lực không chỉ là thái độ, mà còn là con đường, là phương pháp làm việc, trong đó người cán bộ phải tự tư duy, suy nghĩ, tìm ra lối đi, phương pháp, cách làm, tự xác định giải pháp và tự chịu trách nhiệm về hiệu quả công việc, nhiệm vụ được giao.

Tự lực còn thể hiện ở việc không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao khả năng sáng tạo trong công việc. Trong thời đại kinh tế số, khi tri thức thay đổi nhanh, môi trường cạnh tranh khốc liệt, cán bộ, đảng viên phải không ngừng học tập, rèn luyện để tạo ra giá trị mới, nâng cao chất lượng hoạt động lãnh đạo, quản lý và thực thi trách nhiệm. Sự chủ động học hỏi kiến thức khoa học, công nghệ mới, cải tiến phương pháp làm việc và thích ứng với thay đổi chính là biểu hiện cụ thể của tinh thần tự lực, chủ động.

Đối với cán bộ, đảng viên, tự lực là ý thức chủ động, tự giác, sẵn sàng đảm nhận trách nhiệm, không ngại khó, không ngại khổ. Vì thế, mỗi cán bộ, đảng viên phải giữ vai trò tiên phong gương mẫu, dám nghĩ, dám làm, không né tránh nhiệm vụ. Khi mỗi cán bộ đều phát huy tinh thần tự lực, hệ thống chính trị sẽ vận hành hiệu lực và hiệu quả hơn, tạo nên sức mạnh tổng hợp để đất nước tiến lên.

Tinh thần tự cường - yếu tố tạo nên giá trị, sức mạnh làm nên thành công

Tự cường là sự tiếp nối tất yếu của tự lực, thể hiện ý chí kiên định, bền bỉ, không khuất phục trước mọi gian khó, nỗ lực phấn đấu vươn lên, tự tạo nên giá trị, sức mạnh tinh thần và sức mạnh vật chất. Trong lịch sử dân tộc, tinh thần tự cường dân tộc là nhân tố quyết định làm nên những chiến thắng vĩ đại, giúp đất nước vượt qua nhiều thử thách hiểm nghèo. Trong giai đoạn hiện nay, tự cường của cán bộ, đảng viên là điều kiện tiên quyết để vượt qua mọi khó khăn, thách thức, bảo vệ vững chắc độc lập, tự chủ, giữ vững bản lĩnh trước tác động tiêu cực từ mặt trái của hội nhập và cạnh tranh quốc tế.

Tự cường trước hết là thể hiện ở bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa và đường lối đổi mới của Đảng. Trong môi trường số với nhiều luồng thông tin đan xen, sự chống phá của các thế lực thù địch càng tinh vi, cán bộ, đảng viên phải có năng lực nhận diện, phân tích, hiểu đúng bản chất sự việc, giữ vững lập trường và không dao động trước mọi thông tin sai lệch.

Tự cường còn thể hiện ở sức mạnh, khả năng tự vượt khó, vươn lên, sẵn sàng đối diện với khó khăn, thử thách. Đối với cán bộ lãnh đạo quản lý, tự cường là dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đứng mũi chịu sào, dám đấu tranh với tiêu cực, tham nhũng, lợi ích nhóm, dám hành động vì lợi ích chung của Đảng, của nhân dân. Tự cường đối với cán bộ, đảng viên còn thể hiện ở năng lực tự làm giàu tri thức, nâng cao trình độ mọi mặt, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, năng lực quản lý của bản thân để đủ khả năng thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ, hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao phó... Khi đội ngũ cán bộ có tinh thần tự cường mạnh mẽ, đất nước sẽ có nền tảng vững chắc để tiến bước trên con đường hội nhập và phát triển.

Tinh thần tự tin - yếu tố tạo năng lực vượt qua mọi khó khăn, thách thức đi tới mục tiêu cuối cùng

Tự tin là niềm tin vững chắc vào năng lực, khả năng có thể giải quyết một hoặc nhiều vấn đề khó khăn, thách thức nào đó gặp phải trong cuộc sống và hoạt động của con người. Tự tin của cán bộ, đảng viên trước hết được thể hiện ở niềm tin khoa học, kiên định vào mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vào chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng ta, nhân dân ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn. Đó là sự vững tâm trước biến động phức tạp của tình hình thế giới, khu vực, không dao động trước khó khăn, thử thách, không hoang mang trước các luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch.

Tự tin ở đây không phải là tự tin một cách chủ quan, duy ý chí, mà là niềm tin khoa học vào chân lý, giá trị trường tồn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tin vào sức mạnh của nhân dân, tin vào ý chí, sức mạnh, trí tuệ và bản lĩnh dân tộc Việt Nam, tin vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường xây dựng, phát triển đất nước mà Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn. Trong thời đại mới, tự tin không phải là sự chủ quan, tự mãn, mà là thái độ tích cực, chủ động trong hành động, giữ vững độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường. Người cán bộ, đảng viên có tinh thần tự tin sẽ mạnh dạn đổi mới sáng tạo, tiếp cận khoa học, công nghệ tiên tiến. Tự tin cũng giúp cán bộ vượt qua tâm lý e dè, sợ sai, sợ trách nhiệm, từ đó góp phần tạo ra môi trường đổi mới sáng tạo trong toàn hệ thống chính trị. Mỗi cán bộ, đảng viên chỉ có thể thực sự tự tin khi hiểu đúng, hiểu sâu và làm chủ tri thức trong lĩnh vực mình phụ trách. Tự tin không xuất phát từ chức vụ hay thâm niên, mà từ năng lực tư duy độc lập, khả năng phân tích, dự báo và tổ chức thực hiện hiệu quả nhiệm vụ được giao.

Tự tin của cán bộ, đảng viên còn được hun đúc, hình thành và phát triển trên nền tảng của đạo đức cách mạng. Người có đạo đức cách mạng vững vàng sẽ có bản lĩnh vượt qua mọi khó khăn, cám dỗ, không tự cao, tự đại, tự mãn, độc đoán, chuyên quyền; ngược lại, đó là sự tự tin điềm đạm, khiêm nhường, nhưng kiên quyết. Tự tin của cán bộ, đảng viên được đo bằng khả năng hành động, đó là dám hành động vì lợi ích chung, dám chịu trách nhiệm cá nhân vì tập thể, vì sự nghiệp chung của Đảng và đất nước. Trong điều kiện hiện nay, tự tin còn là dám đổi mới trong khuôn khổ kỷ cương, biết cân bằng giữa sáng tạo và tuân thủ nguyên tắc, giữa quyết đoán và thận trọng, giữa lợi ích trước mắt và lâu dài.

Tự tin của cán bộ, đảng viên không phải phẩm chất bẩm sinh, trao truyền, mà là kết quả của quá trình học tập, cống hiến, tu dưỡng đạo đức, rèn luyện trong thực tiễn. Đó là sự tự tin được “kiểm chứng” qua đấu tranh, đối diện với khó khăn, thử thách. Chính mục tiêu, lý tưởng, môi trường kỷ luật, dân chủ, đoàn kết trong Đảng và yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng là nơi nuôi dưỡng, bồi đắp lòng tự tin của cán bộ, đảng viên.

Ngày nay, sự tự tin của cán bộ, đảng viên còn là niềm tin vào sức mạnh của dân tộc. Khi Việt Nam đang có vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế, mỗi cán bộ, đảng viên cần thấy rõ giá trị và tiềm năng của đất nước, để từ đó nuôi dưỡng quyết tâm đóng góp vào sự nghiệp xây dựng quốc gia giàu mạnh. Tự tin là động lực để hội nhập quốc tế một cách chủ động, bình đẳng và hiệu quả. Đó là sự vững vàng về chính trị, làm chủ về trí tuệ, trong sáng về đạo đức và chủ động trong hành động; là niềm tin có cơ sở khoa học vào đường lối của Đảng, vào năng lực của bản thân trong khuôn khổ tổ chức, vào sức mạnh của nhân dân. Đó chính là nguồn lực tinh thần quan trọng, góp phần hình thành đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”, đủ bản lĩnh, trí tuệ và uy tín để đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Lòng tự hào dân tộc - động lực tinh thần nội sinh bền vững

Lòng tự hào dân tộc là một trong những giá trị tinh thần bền vững, được hun đúc qua chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Đối với cán bộ, đảng viên, lòng tự hào dân tộc không chỉ là một trạng thái cảm xúc, mà còn là nền tảng tư tưởng, động lực tinh thần và chuẩn mực giá trị định hướng hành động cách mạng trong mọi hoàn cảnh.

Lòng tự hào dân tộc của cán bộ, đảng viên trước hết bắt nguồn từ nhận thức sâu sắc về lịch sử vẻ vang, truyền thống anh hùng, văn hóa đặc sắc và bản lĩnh kiên cường của dân tộc Việt Nam. Đó là niềm tự hào về một dân tộc “lấy nhỏ thắng lớn”, “lấy yếu chống mạnh”; về một nền văn hiến lâu đời; về tinh thần yêu nước nồng nàn, ý chí tự lực, tự cường, không khuất phục trước bất kỳ thế lực xâm lược nào. Đối với cán bộ, đảng viên, lòng tự hào dân tộc không dừng lại ở việc am hiểu, thuộc lòng lịch sử, mà phải là sự thấm sâu vào tư duy, tình cảm và trách nhiệm chính trị. Cơ sở chiều sâu của lòng tự hào dân tộc trong cán bộ, đảng viên chính là sự am hiểu vì sao dân tộc Việt Nam có thể trường tồn; vì sao Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là tất yếu lịch sử; vì sao con đường mà Đảng ta, nhân dân ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn là con đường đúng đắn, phù hợp với quy luật phát triển của thời đại. Lòng tự hào dân tộc của cán bộ, đảng viên gắn liền với niềm tin khoa học vào Đảng, vào con đường xã hội chủ nghĩa, lòng tự hào dân tộc không tách rời niềm tin lý tưởng chính trị. Đó là niềm tự hào về Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; là niềm tin vững chắc vào mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Chính niềm tự hào ấy tạo nên “sức đề kháng tư tưởng” cho cán bộ, đảng viên trước các luận điệu xuyên tạc, hòng phủ nhận lịch sử, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận con đường xã hội chủ nghĩa. Lòng tự hào dân tộc - động lực nội sinh thúc đẩy tinh thần cống hiến, phụng sự của cán bộ, đảng viên. Lòng tự hào dân tộc của cán bộ, đảng viên không mang tính phô trương, hình thức, mà phải được chuyển hóa thành động lực hành động cụ thể. Đó là động lực thôi thúc cán bộ, đảng viên không ngừng rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng; nâng cao năng lực công tác; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung của Đảng, của nhân dân và của đất nước. Tự hào dân tộc chân chính không cho phép cán bộ, đảng viên thỏa hiệp với sự trì trệ, bảo thủ, cục bộ, lợi ích nhóm; càng không dung thứ cho tham nhũng, tiêu cực, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Ngược lại, lòng tự hào dân tộc đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên sống và làm việc sao cho xứng đáng với truyền thống vẻ vang của dân tộc, với niềm tin của nhân dân và danh dự của người đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Lòng tự hào dân tộc của cán bộ, đảng viên là giá trị tinh thần cốt lõi, là nền tảng tư tưởng - chính trị và là động lực nội sinh quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nuôi dưỡng, bồi đắp và phát huy lòng tự hào dân tộc chính là góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, trí tuệ, trách nhiệm và khát vọng cống hiến, xứng đáng với vai trò tiên phong, gương mẫu trước Đảng, trước nhân dân và trước lịch sử dân tộc.

Tự lực, tự cường, tự tin, tự hào dân tộc có thể xem là những giá trị trường tồn, tạo nên sức mạnh nội sinh của dân tộc Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới. Đây không chỉ là những phẩm chất mang tính truyền thống, mà còn là yêu cầu chiến lược đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và chịu tác động mạnh mẽ của khoa học, công nghệ hiện đại. Khi mỗi cán bộ, đảng viên thấm nhuần sâu sắc và hành động nhất quán theo tinh thần này, toàn hệ thống chính trị sẽ được củng cố vững chắc, tạo nên sức mạnh tổng hợp thúc đẩy quốc gia đi lên. Tự lực giúp cán bộ chủ động suy nghĩ và tìm ra giải pháp sáng tạo, không trông chờ hay ỷ lại vào nguồn lực bên ngoài. Tự cường nuôi dưỡng bản lĩnh kiên định, giúp người cán bộ giữ vững lập trường trước mọi khó khăn, thử thách. Tự tin tạo động lực cho sự đổi mới, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm, qua đó mở rộng không gian phát triển. Tự hào dân tộc nuôi dưỡng tình yêu nước, lòng trung thành với Tổ quốc và ý thức trách nhiệm đối với nhân dân, tạo nên sự bền vững về giá trị tinh thần. Khi tinh thần tự lực, tự cường, tự tin, tự hào dân tộc hội tụ trong mỗi cán bộ, đảng viên, sức mạnh ấy không chỉ lan tỏa trong hệ thống chính trị, mà còn truyền cảm hứng cho toàn xã hội. Đó chính là nền tảng để đất nước bước vào kỷ nguyên mới với khát vọng lớn lao, xây dựng một Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây cũng là điều kiện quan trọng để thực hiện thắng lợi hai mục tiêu 100 năm(1), đưa dân tộc Việt Nam vững vàng tiến lên trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực đầy biến động.

Thành phố Hồ Chí Minh rực sáng pháo hoa mừng kỷ niệm 50 năm Ngày Thành phố Sài Gòn - Gia Định chính thức vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh _Nguồn: dantri.vn

2- Phát huy tinh thần tự lực, tự cường, tự tin, tự hào dân tộc của cán bộ, đảng viên để xây dựng, phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên phát triển giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước đứng trước thời cơ phát triển chưa từng có; đồng thời, cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức mới đến từ cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, biến động khó lường của tình hình thế giới, tác động sâu rộng của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong bối cảnh đó, cùng với việc phát huy nguồn lực vật chất, khoa học, công nghệ, thể chế và con người, cần đặc biệt chú trọng khơi dậy và phát huy mạnh mẽ nguồn lực tinh thần của dân tộc, mà trước hết là tinh thần tự lực, tự cường, tự tin, tự hào dân tộc của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đây không chỉ là yêu cầu về mặt tư tưởng, mà còn là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với việc nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy đất nước phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.

Một là, nâng cao nhận thức, củng cố bản lĩnh chính trị và khát vọng cống hiến của cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới

Trước hết, cần làm cho mỗi cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc rằng tự lực, tự cường, tự tin, tự hào dân tộc là giá trị xuyên suốt, làm nên sức sống trường tồn của dân tộc Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Chính tinh thần ấy đã giúp dân tộc ta vượt qua biết bao cuộc chiến tranh xâm lược, những giai đoạn khó khăn, gian khổ để giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, hàn gắn vết thương chiến tranh và tiến hành thành công công cuộc đổi mới. Trong điều kiện hiện nay, tự lực, tự cường không có nghĩa là khép kín hay biệt lập, mà là chủ động hội nhập quốc tế trên cơ sở phát huy cao nhất nội lực quốc gia; là khả năng tự quyết định con đường phát triển của mình, không lệ thuộc, không bị chi phối bởi bất kỳ sức ép nào từ bên ngoài. Tự tin là niềm tin vào sức mạnh của dân tộc, vào sự lãnh đạo của Đảng, vào tương lai phát triển của đất nước. Tự hào dân tộc là ý thức sâu sắc về giá trị lịch sử, văn hóa, truyền thống và những thành tựu mà dân tộc đã đạt được.

Vì vậy, cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục chính trị tư tưởng; nâng cao chất lượng nghiên cứu, tuyên truyền lý luận; tăng cường giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc và những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đồng thời, gắn việc giáo dục lòng yêu nước với việc khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thực sự thấm nhuần trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân và trước tương lai dân tộc.

Hai là, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên tiên phong, gương mẫu, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích quốc gia - dân tộc

Tinh thần tự lực, tự cường không thể chỉ dừng lại ở nhận thức, mà phải được chuyển hóa thành hành động cụ thể của cán bộ, đảng viên. Trong mọi thời kỳ cách mạng, cán bộ luôn là nhân tố quyết định sự thành bại của công việc. Vì vậy, phát huy tinh thần tự lực, tự cường trước hết phải bắt đầu từ việc xây dựng đội ngũ cán bộ thực sự có bản lĩnh, trí tuệ, đạo đức và khát vọng cống hiến. Trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu đặt ra là khắc phục triệt để tâm lý trông chờ, ỷ lại, né tránh trách nhiệm, sợ sai, sợ khó, sợ va chạm; đồng thời, xây dựng văn hóa hành động quyết liệt, sáng tạo, hiệu quả trong toàn hệ thống chính trị. Mỗi cán bộ, đảng viên phải thực sự trở thành người tiên phong trong đổi mới tư duy, đổi mới phương pháp làm việc và giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra.

Cần tiếp tục hoàn thiện thể chế về công tác cán bộ theo hướng đánh giá cán bộ bằng sản phẩm, hiệu quả và kết quả thực chất; xây dựng cơ chế khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Đồng thời, kiên quyết sàng lọc cán bộ thiếu trách nhiệm, trì trệ, bảo thủ, không đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới. Khi đội ngũ cán bộ thực sự dám nghĩ lớn, dám hành động lớn và dám chịu trách nhiệm cao vì lợi ích của đất nước, đó chính là biểu hiện sinh động nhất của tinh thần tự lực, tự cường trong kỷ nguyên mới.

Ba là, khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển đất nước hùng cường gắn với xây dựng văn hóa cống hiến trong đội ngũ cán bộ, đảng viên

Khát vọng phát triển là động lực tinh thần đặc biệt quan trọng của mỗi dân tộc. Lịch sử cho thấy mọi quốc gia phát triển thành công đều bắt nguồn từ một khát vọng lớn lao và ý chí vươn lên mạnh mẽ của toàn dân tộc. Đối với Việt Nam, khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc đã được Đại hội XIII của Đảng đề ra và tiếp tục được Đại hội XIV khẳng định như một định hướng chiến lược xuyên suốt. Khát vọng ấy cần được cụ thể hóa thành mục tiêu hành động của mỗi cán bộ, đảng viên trên từng cương vị công tác.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức rõ rằng sự phát triển của đất nước được tạo nên từ đóng góp cụ thể trong từng lĩnh vực, từng ngành, từng địa phương, tạo thành sức mạnh tổng hợp quốc gia. Vì vậy, cần xây dựng mạnh mẽ văn hóa cống hiến, văn hóa trách nhiệm và văn hóa phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân trong toàn hệ thống chính trị. Cùng với đó, cần đổi mới công tác thi đua, khen thưởng theo hướng thực chất; phát hiện, tôn vinh và nhân rộng tập thể, cá nhân tiêu biểu có sáng kiến, cách làm hay, tạo ra giá trị mới cho xã hội. Qua đó, tạo môi trường để tinh thần cống hiến trở thành nhu cầu tự thân, trở thành chuẩn mực giá trị của người cán bộ, đảng viên trong thời đại mới.

Bốn là, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực làm chủ khoa học, công nghệ và chuyển đổi số

Trong kỷ nguyên số, sức mạnh quốc gia không chỉ được đo bằng tài nguyên thiên nhiên hay quy mô dân số, mà ngày càng được quyết định bởi chất lượng nguồn nhân lực, trình độ khoa học, công nghệ, năng lực đổi mới sáng tạo. Do đó, phát huy tinh thần tự lực, tự cường hiện nay trước hết phải được thể hiện bằng năng lực làm chủ tri thức, làm chủ công nghệ và làm chủ tương lai phát triển của đất nước. Một dân tộc muốn tự cường phải có đội ngũ cán bộ đủ trình độ dẫn dắt quá trình phát triển.

Cần đổi mới căn bản nội dung, phương thức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế và thích ứng với yêu cầu của nền kinh tế số, xã hội số và chính quyền số. Chú trọng trang bị cho cán bộ, đảng viên tư duy chiến lược, năng lực số, năng lực quản trị hiện đại, kỹ năng đổi mới sáng tạo và khả năng làm việc trong môi trường toàn cầu hóa. Đồng thời, xây dựng mạnh mẽ văn hóa học tập suốt đời trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Mỗi cán bộ phải không ngừng tự học, tự nghiên cứu, tự nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và lý luận chính trị. Đây không chỉ là yêu cầu công vụ, mà còn là biểu hiện cụ thể của tinh thần tự lực, tự cường trong điều kiện phát triển mới.

Năm là, phát huy giá trị văn hóa, lịch sử và sức mạnh mềm của Việt Nam, bồi đắp niềm tin, tinh thần tự lực, tự cường, tự tin, tự hào dân tộc

Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là cội nguồn của sức mạnh dân tộc. Tự hào dân tộc là kết quả của quá trình bồi đắp lâu dài từ lịch sử, văn hóa, truyền thống và những thành tựu phát triển của đất nước. Vì vậy, cần tiếp tục đẩy mạnh giáo dục lịch sử dân tộc, truyền thống yêu nước, ý chí độc lập, tự chủ và tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc. Cần làm cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân nhận thức đầy đủ hơn về những giá trị cao đẹp của dân tộc Việt Nam; về những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử dưới sự lãnh đạo của Đảng; về vị thế, uy tín ngày càng cao của đất nước trên trường quốc tế. Đồng thời, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong Đảng và trong xã hội; phát triển hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới. Kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện phủ nhận lịch sử, xuyên tạc thành tựu cách mạng, tâm lý tự ti dân tộc hoặc sùng ngoại cực đoan. Khi được nuôi dưỡng bền vững, lòng tự hào dân tộc sẽ trở thành động lực nội sinh to lớn thôi thúc cán bộ, đảng viên cống hiến nhiều hơn cho sự phát triển của đất nước.

Sáu là, tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tạo nền tảng vững chắc để phát huy tinh thần “tự lực, tự cường, tự tin, tự hào dân tộc” cho cán bộ, đảng viên

Tinh thần tự lực, tự cường của cán bộ, đảng viên chỉ có thể được phát huy đầy đủ khi đặt trong một môi trường chính trị lành mạnh, một tổ chức đảng thực sự trong sạch, vững mạnh và có sức chiến đấu cao. Do đó, cần tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Đồng thời, tăng cường kiểm soát quyền lực, siết chặt kỷ luật, kỷ cương và đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng; thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tự soi, tự sửa, tự đổi mới và tự hoàn thiện bản thân. Tự lực, tự cường trước hết phải bắt đầu từ việc chiến thắng chính mình, vượt qua chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cơ hội, cục bộ và những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Một Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh; một đội ngũ cán bộ thực sự liêm chính, tận tụy và phụng sự nhân dân sẽ là nguồn cảm hứng, là trung tâm quy tụ sức mạnh và niềm tin xã hội. Đó chính là nền tảng chính trị - tinh thần vững chắc để khơi dậy và phát huy cao độ tinh thần tự lực, tự cường, tự tin, tự hào dân tộc, tạo nên sức mạnh tổng hợp, đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới phát triển giàu mạnh, phồn vinh và hạnh phúc.

***

Với khát vọng vươn lên mạnh mẽ của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, tinh thần tự lực, tự cường, tự tin, tự hào dân tộc đang trở thành nguồn lực tinh thần vô giá, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của đất nước trong giai đoạn mới. Khát vọng đó không phải là cảm xúc nhất thời, mà là ý chí, là quyết tâm mạnh mẽ được hun đúc từ chiều sâu lịch sử dựng nước và giữ nước, đồng thời được soi sáng bởi lý tưởng cách mạng. Tinh thần “bốn tự - tự lực, tự cường, tự tin, tự hào dân tộc” không chỉ là khẩu hiệu, mà phải trở thành ngọn lửa thường trực trong trái tim mỗi cán bộ, đảng viên và từng người dân. Tự lực để chủ động tìm ra con đường phát triển bằng trí tuệ và sức mạnh nội tại. Tự cường để giữ vững độc lập, tự chủ và không bị khuất phục trước mọi sức ép. Tự tin để mạnh dạn đổi mới sáng tạo và dám vươn lên trên trường quốc tế. Tự hào dân tộc để nuôi dưỡng tinh thần trách nhiệm, ý chí, khát vọng cống hiến và lòng trung thành với Tổ quốc. Khi các giá trị này hòa quyện thành sức mạnh tinh thần thống nhất, Việt Nam sẽ có đầy đủ điều kiện để bước vào kỷ nguyên mới với tâm thế của một dân tộc tự tin, một quốc gia độc lập, tự chủ và một đất nước có khát vọng vươn mình mạnh mẽ. Tinh thần “bốn tự” vì thế không chỉ là cơ sở, mà còn là động lực bảo đảm cho mục tiêu xây dựng một đất nước Việt Nam giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội./.

--------------

(1) “Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao”, (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. II, tr. 203 - 204).

Nguồn: Tapchicongsan.vn

Tin liên quan